Huyết học

Ý nghĩa lâm sàng chỉ số xét nghiệm huyết học (máu):

Giảm trong thiếu máu do bất sản (giảm sản xuất), thiếu hụt vitamin B12 hoặc folate (không trưởng thành được), nhiễm khuẩn (giảm sự sống sót).

B?nh vi?n Truy?n máu - Huy?t h?c TP H? Chí Minh th?c hi?n 114 ca ghép t? bào g?c t?o máu Tổng phân tích máu:

* Số lượng bạch cầu của chúng ta (white blood cells: WBC)

+ Trong 1lít máu ngoại vi có 7,0 x 109 bạch cầu (đối với nam)
+ Trong 1lít máu ngoại vi có 6,2 x109 bạch cầu (đối với nữ)
+ Nhìn chung vào khoảng 5,0 x 109 đến 9,0 x 109 bạch cầu (đối với người trưởng thành).
+ Trẻ sơ sinh có số lượng bạch cầu rất cao: 20,0 x109 bạch cầu/1lít máu ngoại vi.
+ Lúc một tuổi còn 10,0 x 109bạch cầu/1lit máu. Từ 12 tuổi trở đi số lượng bạch cầu trở về ổn định bằng người trưởng thành.

– Bạch cầu từ :40-10 Giga / L có ý nghĩa như sau :

+ Tăng trong viêm nhiễm, bệnh máu ác tính, các bệnh bạch cầu, ví dụ như: bệnh bạch cầu dòng tuỷ cấp, bệnh bạch cầu lympho cấp, bệnh bạch cầu dòng tuỷ mạn, bệnh bạch cầu lympho mạn, bệnh u bạch cầu. Việc sử dụng một số thuốc cũng có thể gây tăng số lượng bạch cầu, ví dụ: corticosteroid
+ Giảm trong thiếu máu do bất sản (giảm sản xuất), thiếu hụt vitamin B12 hoặc folate (không trưởng thành được), nhiễm khuẩn (giảm sự sống sót). Việc sử dụng một số thuốc cũng có thể gây giảm số lượng bạch cầu: các phenothiazine, chloramphenicol, aminopyrine.

* Số lượng hồng cầu (red blood cell count: RBC)

Ở người bình thường, số lượng hồng cầu trong máu ngoại vi là:
+ Nam: 5.400.000 ± 300.000 /mm3.
+ Nữ: 4.700.000 ± 300.000/mm3.
Số lượng hồng cầu có thể thay đổi trong một số trường hợp sinh lý. Ở trẻ sơ sinh, số lượng hồng cầu cao trong vòng một hai tuần đầu, sau đó có hiện tượng vỡ hồng cầu gây vàng da sinh lý. Ngoài ra, số lượng hồng cầu có thể tăng ở những người lao động nặng, sống ở vùng cao.

-Hồng cầu từ :3,8-5,8 Tera / L. chỉ cho chúng ta biết 

Tăng trong mất nước, chứng tăng hồng cầu.Giảm trong thiếu máu.

* Lượng huyết sắc tố (hemoglobin: Hb)

– Huyết sắc tố bình thường :
+ Huyết sắc tố A (adulte = người lớn) có ở tất cả mọi người bình thường. Huyết sắc tố A bao gồm cả huyết sắc tố A1, tỷ lệ khoảng trên 90% tổng số; một phần nhỏ là huyết sắc tố A2 và A3. Tỷ lệ chứa huyết sắc tố F không quá 1%.
+Huyết sắc tố F (foetus = bào thai) có ở bào thai; huyết sắc tố F là huyết sắc tố duy nhất kháng kiềm. Sau khi đẻ, huyết sắc tố F giảm rất nhanh, từ 80% giảm xuống 50% ở tháng thứ 2, 5% ở tháng thứ 6, … Nếu có nhiều huyết sắc tố F, sẽ mắc bệnh thiếu máu vùng biển thalassemi, một bệnh thiếu máu tan máu, có hồng cầu mảnh nhỏ hình bia, hình nhẫn, đồng thời có nhiều hồng cầu non ra ngoài máu ngoại vi và có rối loạn về xương; bệnh có tính chất di truyền; nếu là trường hợp đồng hợp tử thì bệnh nặng có cả biểu hiện về máu và lâm sàng mang tên là bệnh Cooley; nếu là trường hợp dị hợp tử thì bệnh nhẹ, bênh nhân có thể sống lâu được là hội chứng Rietti-Greppi-Micheli hoặc chỉ có rối loạn tiềm tàng về máu. Bệnh hay gặp ở quanh vùng Địa Trung Hải, Miến Điên, Thái Lan, Ấn Độ. Ở Việt Nam đã có một số ít trường hợp.

– Huyết sắc tố sấu (người có bệnh) Cho tới nay người ta phát hiện được ngày càng nhiều loại huyết sắc tố bất thường : S, C, D, E, G, H, I, J, K, L, M, …
1.Huyết sắc tố S (hay B) tìm ra năm 1949 gặp ở những người da đen châu Phi, châu Mỹ, ngoài ra còn thấy ở Hi Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, trong một loại thiếu máu tan máu có hồng cầu hình liềm; ước tính có vài chục triệu người mang huyết sắc tố này.
2.Huyết sắc tố C tìm ra năm 1950 ở những người da đen châu Phi và châu Mỹ, gây nên bệnh thiếu máu tan máu nhẹ có hồng cầu hình bia.
3.Huyết sắc tố D tìm ra năm 1951 ở những người da đen, da trắng ở châu Âu, châu Mỹ, người Angiêri.
4.Huyết sắc tố E tìm ra năm 1954 ở Thái Lan, Miến Điện và Campuchia, miền nam Việt Nam.
5.Huyết sắc tố G tìm ra năm 1954 ở những người da đen châu Phi và một số gia đình người da trắng ở California.
6.Huyết sắc tố H tìm ra năm 1955 ở Trung Quốc, Angiêri, Ý và cả ở Đông nam châu Á; loại này chưa được phân định rõ ràng có lẽ gây nên thiếu máu tan máu khá nặng với hồng cầu nhỏ, có nhiều chất vùi trong hồng cầu.
7.Huyết sắc tố I tìm ra năm 1955 ở những người da đen châu Mỹ.
8.Huyết sắc tố J tìm ra năm 1956 ở những người da đen ở Bắc Mỹ và Libêria.
9.Huyết sắc tố K tìm ra năm 1954 ở những người da trắng Bắc Mỹ.
10.Huyết sắc tố L ở những người Hindous vùng Pendjab.
11.Huyết sắc tố M tìm ra năm 1956-1960 ở Nhật. Ngoài ra, còn các huyết sắc tố N ở Ghinê, P ở Texas, Q ở Sanleyville; Hopkins, Norfolk, Bart, Alexandra, …
Các huyết sắc tố bất thường gây nên các trường hợp bệnh lý thiếu máu tan máu có tính chất di truyền; cũng như trong trường hợp có nhiều huyết sắc tố F, nếu trường hợp đồng hợp tử, bệnh sẽ biểu hiện rất rõ rệt về lâm sàng lẫn trong máu, bệnh tiến triển nặng, dễ tử vong, về danh pháp người ta chỉ ghi cả hai loại huyết sắc tố bất thường ví dụ SS, CC, Đ … có thể có trường hợp hai loại huyết sắc tố bất thường khác nhau, ví dụ SC, SD, … Nếu là trường hợp dị hợp tử, bệnh thường biểu hiện tiềm tàng, chỉ có rối loạn đơn thuần về hình thể hồng cầu, bệnh nhân có thể sống lâu, về danh pháp người ta chỉ ghi huyết sắc tố bình thường trước huyết sắc tố bất thường , ví dụ AS, AE, AD, …
+ Nếu bạn có chỉ số huyết sắc tố từ 12-16,5 g /dl có nghĩa là Tăng trong mất nước, bệnh tim và bệnh phổi.Giảm trong  thiếu máu, chảy máu và các phản ứng gây tan máu.

* Lượng Hb trung bình hồng cầu (mean corpuscular hemoglobin: MCH)

Người có 26-32 pg.có nghĩa là MHC tăng trong thiếu máu tăng sắc hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh.
MCH giảm trong bắt đầu thiếu máu thiếu sắt, thiếu máu nói chung, thiếu máu đang tái tạo.

* Nồng độ Hb trung bình hồng cầu (mean corpuscular hemoglobin concentration: MCHC)

Người có chỉ số 32-36 g/dL.có ngĩa là Trong thiếu máu tăng sắc hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh.
Trong thiếu máu đang tái tạo, có thể bình thường hoặc giảm trong thiếu máu do giảm folate hoặc vitamin B12, xơ gan, nghiện rượu

* Độ phân bố hồng cầu (red distribution width: RDW)

Chỉ số có mức từ 10-16,5%.là Độ phân bố hồng cầu RDW bình thường và:MCV tăng, gặp trong: thiếu máu bất sản, trước bệnh bạch cầu.
MCV bình thường, gặp trong: thiếu máu trong các bệnh mạn tính, mất máu hoặc tan máu cấp tính, bệnh enzym hoặc bệnh hemoglobin không thiếu máu.
MCV giảm: thiếu máu trong các bệnh mạn tính, bệnh thalassemia dị hợp tử.RDW tăng và:MCV tăng: thiếu hụt vitamin B12, thiếu hụt folate, thiếu máu tan huyết do miễn dịch, ngưng kết lạnh, bệnh bạch cầu lympho mạn.
MCV bình thường: thiếu sắt giai đoạn sớm, thiếu hụt vitamin B12 giai đoạn sớm, thiếu hụt folate giai đoạn sớm, thiếu máu do bệnh globin.
Giảm MCV: thiếu sắt, sự phân mảnh hồng cầu, bệnh HbH, thalassemia.

* Số lượng tiểu cấu (platelet count: Plt)

Có chỉ số từ 150-450 Giga/L.có ý nghĩa là Trong  những rối loạn tăng sinh tuỷ xương: chứng tăng hồng cầu, bệnh bạch cầu dòng tuỷ mạn, chứng tăng tiểu cầu vô căn, xơ hoá tuỷ xương, sau chảy máu, sau phẫu thuật cắt bỏ lách, chứng tăng tiểu cầu dẫn đến các bệnh viêm.
Số lượng tiểu cầu trong máu giảm trong:
Giảm sản xuất: ức chế hoặc thay thế tuỷ xương, các chất hoá trị liệu, các thuốc khác, ví dụ: ethanol.
Tăng phá hủy hoặc loại bỏ: chứng phì đại lách, sự đông máu trong lòng mạch rải rác, các kháng thể tiểu cầu (ban xuất huyết do giảm tiểu cầu tự phát, sốt Dengue, ban xuất huyết sau truyền máu, giảm tiểu cầu do miễn dịch đồng loại ở trẻ sơ sinh, các thuốc: quinidin, cephalosporin.

* Thể tích trung bình tiểu cầu (mean platelet volume: MPV)

Người có thể tích 6,5-11fL.hàm nghĩa là :
Trong  bệnh tim mạch (sau nhồi máu cơ tim, sau tắc  mạch não, đái tháo đường, tiền sản giật, hút thuốc lá, cắt lách, stress, chứng nhiễm độc do tuyến giáp, …
Trong thiếu máu do bất sản, thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ, hoá trị liệu ung thư, bệnh bạch cầu cấp, lupus ban đỏ hệ thống, chứng tăng năng lách, giảm sản tủy xương, dầu cá, chứng tăng tiểu cầu hoạt động.

* Khối tiểu cầu (plateletcrit: Pct)

Người có khối lượng tiểu cầu từ 0,1-0,5 % là :
Tăng trong ung thư đại trực tràng.
Giảm trong nghiện rượu, nhiễm nội độc tố.

* Độ phân bố tiểu cầu (platelet disrabution width: PDW)

Người có mức phân bố từ 6-18 % là:
Trong ung thư phổi (PDW ở ung thư phổi tế bào nhỏ SCLC cao hơn ở ung thư phổi tế bào không nhỏ NSCLC), bệnh hồng cầu liềm, nhiễm khuẩn huyết gram dương, gram âm.
Giảm trong  nghiện rượu.

* Tỷ lệ % bạch cầu trung tính (% neutrophils: NEUT%)

Người có tỉ lện % từ 43-76 % có nghĩa là :
Trong các nhiễm khuẩn cấp, nhồi máu cơ tim cấp, stress, các ung thư (neoplasms), bệnh bạch cầu dòng tuỷ.
Trong các nhiễm virus, thiếu máu bất sản, các thuốc ức chế miễn dịch, xạ trị .

* Tỷ lệ % bạch cầu lympho (% lymphocytes: LYM%)

Có tỉ lện bạch cầu từ 17-48% là: Tăng trong nhiễm khuẩn mạn, chứng tăng bạch cầu đơn nhân  do nhiễm khuẩn và nhiễm virus khác, bệnh bạch cầu dòng lympho mạn, bệnh Hodgkin, viêm loét đại tràng, suy tuyến thượng thận, ban xuất huyết do giảm tiểu cầu tự phát ITP.
Giảm trong hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), ức chế tủy xương do các hoá chất trị liệu, thiếu máu bất sản, các ung thư, các steroid, tăng chức năng vỏ thượng thận, các rối loạn thần kinh (bệnh xơ cứng rải rác, nhược cơ, hội chứng thần kinh ngoại biên do rối loạn tự miễn Guillain-Barré syndrome)

* Tỷ lệ % bạch cầu mono (% monocytes: MON%)

Người có tỉ lệ bạch cầu từ 4-8% là :
Tăng trong các trường hợp bệnh nhiễm virus, nhiễm ký sinh trùng, nhiễm khuẩn, các ung thư, viêm ruột, bệnh bạch cầu dòng monocyte, u lympho, u tuỷ, sarcoidosis, …
Giảm trong các trường hợp thiếu máu do bất sản, bệnh bạch cầu dòng lympho, sử dụng glucocorticoid.
Bạch cầu, hay bạch huyết cầu (nghĩa là “tế bào máu trắng”, còn được gọi là tế bào miễn dịch), là một thành phần của máu. Chúng giúp cho cơ thể chống lại các bệnh truyền nhiễm và các vật thể lạ trong máu. Chúng là một phần của hệ miễn dịch, số lượng bạch cầu các loại trong một lít máu người lớn khỏe mạnh dao động từ 4×109 tới 11×109.

* Số lượng bạch cầu trung tính (neurophil count hoặc neutrophils: Neut ): 2-6,9 Giga/ L.

Tăng trong các nhiễm khuẩn cấp, nhồi máu cơ tim cấp, stress, các khối u (neoplasms), bệnh bạch cầu dòng tuỷ.
Trong các trường hợp nhiễm virus, thiếu máu do bất sản, sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch, xạ trị.

* Số lượng bạch cầu lympho (lymphocyte count hoặc lymphocytes: LYM ): 0,6-3,4 Giga/ L.

Trong nhiễm khuẩn mạn, chứng tăng bạch cầu đơn nhân  do nhiễm khuẩn và nhiễm virus khác, bệnh bạch cầu dòng lympho mạn, bệnh Hodgkin, viêm loét đại tràng, suy tuyến thượng thận, ban xuất huyết do giảm tiểu cầu tự phát ITP.
Giảm trong hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), ức chế tủy xương do các hoá chât trị liệu, thiếu máu bất sản, các khối u, các steroid, tăng chức năng vỏ thượng thận, các rối loạn thần kinh (bệnh xơ cứng rải rác, nhược cơ, hội chứng thần kinh ngoại biên do rối loạn tự miễn Guillain-Barré syndrome).

* Số lượng bạch cầu mono (monocyte count hoặc monocytes: MON#): 0,0-0,9 Giga/ L.

Trong các bệnh nhiễm virus, nhiễm ký sinh trùng, nhiễm khuẩn, các khối u, viêm ruột, bệnh bạch cầu dòng monocyte, u lympho, u tuỷ.
Giảm trong thiếu máu do bất sản, bệnh bạch cầu dòng lympho, sử dụng glucocorticoid.

* Số lượng bạch cầu ái toan (eosinophil count hoặc eosinophils: EOS#): 0,0-0,7 Giga/ L.

Tăng trong dị ứng, nhiễm ký sinh trùng (bệnh giun xoắn, bệnh nấm aspergillus, bệnh nang sán), bệnh phù thần kinh-mạch, các phản ứng thuốc, nhạy cảm warfarin, các bệnh mạch máu-collagen, hội chứng tăng bạch cầu ái toan cấp, viêm mũi ưa bạch cầu ái toan không do dị ứng, các rối loạn tăng sản tuỷ (u bạch huyết Hodgkin, xạ trị,…
Giảm trong sử dụng các thuốc corticosteroid.

* Số lượng bạch cầu ưa base (basophil count hoặc basophils: BASO): 0,0-0,2 Giga/ L.

Tăng trong bệnh bạch cầu, viêm, chứng đa hồng cầu, Hodgkin’s, thiếu máu tan máu, sau cắt lách, dị sản tuỷ xương, chứng phù niêm.
Giảm trong stress, phản ứng quá mẫn, các steroid, thai nghén, cường giáp, sau xạ trị.
+ Nhóm máu ABO, nhóm máu Rh
Kiểm tra sức khoẻ, ngoại khoa, sản khoa, nội khoa,…
+ Truyền máu.
Bất thường nhóm máu mẹ- con.
+ Huyết đồ, Tuỷ đồ
Các bệnh lý về máu và cơ quan tạo máu: ung thư­  máu, thiếu máu, suy tuỷ…
+ Máu lắng
Tăng trong viêm khớp, các tình trạng viêm nhiễm.
Giảm trong đa hồng cầu, cô máu, …
+ Tập trung bạch cầu
Phát hiện sớm các bệnh về máu (ung thư­ máu, suy tủy, RLST?).
+ Tế  bào Hargraves
Lupus ban đỏ, miễn dịch dị ứng…
+ Đông máu toàn bộ
Xét nghiệm tổng hợp để chẩn đoán, đánh giá các bệnh lý rối loạn về đông  – cầm máu.
+ Thời gian Howell
Xác định rối loạn đông máu theo con đường nội sinh.
+ Thời gian Prothrombin (PT = thời gian Quick), tỷ lệ  Prothrombin,  chỉ  số  INR
Xác định rối loạn đông máu theo con đường ngoại sinh.
+ Tiêu thụ  Prothrombin
Xác định các rối loạn đông máu.
Đo độ ngư­ng tập tiểu cầu
Đánh giá chất lượng tiểu cầu.
+ Nghiệm pháp Rượu; D-Dimer
Xác định đông máu nội mạch lan toả.
+ Nghiệm pháp Von-Kaulla, FDP
Đánh giá tình trạng tiêu sợi huyết.
+ Thời gian Cephalin kaolin
Xác định rối loạn đông máu theo con đường nội sinh.
+ Co cục máu
Đánh giá tình trạng tiểu cầu, của fibrin, yếu tố XIII.
+ Máu chảy, máu đông
Đánh giá tình trạng đông, cầm máu.
Các yếu tố đông máu (VIII, IX)
Chẩn đoán các rối loạn đông máu và bệnh ­ưa chảy máu.
+ Sắt huyết thanh (Iron)
Nam: 11-28 µmol/L
Nữ:  6,6-26 µmol/L
Thiếu máu do tan máu, thiếu máu Biermer; hội chứng nhiễm sắt huyết tố (Hemochromatosis).
Viêm gan cấp tính (tăng cao nhất vào khoảng ngày thứ 15 rồi giảm dần vào tuần thứ 4 -6 của bệnh), xơ gan.
Thiếu máu nhược sắc thiếu sắt do bị mất máu.
Trong một số bệnh nhiễm khuẩn, ung thư, bệnh chất tạo keo.
+ Ferritin
Nam: 67-899 pmol/L
Nữ < 50 tuổi: 34-377 pmol/L
> 50 tuổi: như giá trị của nam.
Trong bệnh nhiễm sắc sắt tố mô, thiếu máu (ác tính, tan máu, Thalassemia), bệnh bạch cầu (Leucemia) cấp, đợt tiến triển của Leucemia mạn, u lympho (lymphoma),  u tủy, Hodgkin, nhiễm trùng cấp và  mạn, tổn thương mô, …
Giảm trong thiếu máu thiếu sắt (iron deficiency anemia).

* Transferrin: 25,2-45,4 mmol/L.

Transferrin là một glycoprotein có khối lượng phân tử 79570 Da, là một protein vận chuyển sắt trong huyết thanh.
Mức độ transferrin huyết thanh giảm khi sắt dự trữ giảm.
TfS (Transferrin saturation)
Nam =  20-50%.
Nữ  =  15-50%.
Trong thiếu hụt sắt, độ bão hoà transferrin (= sắt huyết thanh/ transferrin) giảm là một chỉ dẫn rất nhạy của thiếu sắt.
TIBC.

* (Total iron- binding capacity): 43,0-80,6 µmol/L (240-450µg/dL).

Khả năng gắn sắt toàn phần (TIBC) là tổng lượng sắt huyết thanh và khả năng gắn sắt không bão hoà (UIBC). Như vậy, TIBC là nồng độ sắt tối đa mà transferrin có khả năng gắn.
TIBC tăng và độ bão hoà transferrin giảm trong thiếu máu, thiếu sắt.
Sắt huyết thanh giảm và TIBC giảm là đặc điểm của thiếu máu do các rối loạn mạn tính, ung thư hoặc do các nhiễm trùng.
UIBC

* (Unsaturated iron-binding capacity): 20-62 mmol/L.

Khả năng gắn sắt không bão hoà (UIBC) là số lượng sắt có thể gắn thêm được vào transferrin. UIBC cùng sắt huyết thanh, TIBC và ferritin được sử dụng để đánh giá xem có hay không sự thiếu hụt sắt.
sTfR

* (Soluble transferrin receptor): 9,6-29,6 nmol/L.

Receptor của transferrin hoà tan (rTfR) là một protein xuyên màng thấy ở tất cả các tế bào. Nó có vai trò là cung cấp sắt cho tế bào bằng cách gắn transferrin chứa sắt vào bề mặt tế bào và vận chuyển sắt vào bên trong tế bào.
Việc xác định nồng độ rTfR huyết thanh có ý nghĩa trong:
rTfR tăng sinh hồng cầu quá mạnh như trong thiếu máu tan máu tự miễn,  chứng tăng hồng cầu và Thalassemia.
rTfR huyết thanh cũng tăng trong thiếu máu thiếu sắt, đặc biệt là thiếu máu do bệnh mạn tính.

PHÒNG KHÁM QUỐC ĐẠT
Địa chỉ : Số 410 Lương Ngọc Quyến – TP Thái Nguyên
Hotline: 0941 832 999
Điện thoại: 0982 874 352
Email: phongkhamquocdat@gmail.com
Website: www.phongkhamquocdat.vn
FB: www.facebook.com/phongkhamquocdat